Pháp Luật Đại Cương – PHÁP LUẬT THỪA KẾ
1. Một số khái niệm
* Thừa kế là việc cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.
* Người thừa kế: là người được hưởng di sản thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật. Người thừa kế là cá nhân phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế, hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trong trường hợp người thừa kế theo di chúc là cơ quan, tổ chức thì phải còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
* Thời điểm mở thừa kế: người có tài sản (người để lại thừa kế ) chết. Trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế, người thừa kế có quyền khởi kiện (ra tòa) để yêu cầu người thừa kế khác chia di sản.
* Thời hiệu giải quyết thừa kế và các vấn đề liên quan đến di sản:
Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu (đồng thừa khác hoặc yêu cầu tòa án) chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản thuộc về Nhà nước.

Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.
Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.
* Địa điểm mở thừa kế: nơi cư trú cuối cùng của người chết, nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng thì địa điểm mở thừa kế là nơi có phần lớn tài sản thừa kế.
* Di sản thừa kế: Tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.

* Từ chối nhận di sản: Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác.
* Những người không được hưởng di sản thừa kế:
-
Người bị kết án về hành vi cố ý xâm hại tính mạng, sức khoẻ hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó.
-
Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản.
-
Người bị kết án về hành vi cố ý xâm hại tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng
-
Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc, giả mạo, sửa chữa hoặc hủy di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.
Lưu ý: Nếu người để lại di sản biết rõ các hành vi nói trên của họ mà vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc thì họ vẫn được hưởng thừa kế.
2. Hình thức chia thừa kế
a. Chia thừa kế theo di chúc

Di chúc: là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.
Hình thức của di chúc: Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng.
Di chúc bằng văn bản: người lập di chúc phải tự tay viết và ký vào bản di chúc;
Di chúc miệng. Trong trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe doạ do bệnh tật hoặc các nguyên nhân khác mà không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng. Người di chúc miệng thể hiện ý chí của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ; trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng, chứng thực; sau 3 tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị huỷ bỏ.
Những người không được làm chứng cho việc lập di chúc:
* Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc;
* Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc;
* Người chưa đủ 18 tuổi, người không có năng lực hành vi dân sự.
– Người lập di chúc:
1. Người đã thành niên có quyền lập di chúc, trừ trường hợp người đó bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình.
2. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.
Người lập di chúc là cá nhân có các quyền sau đây:
-
Chỉ định người thừa kế
-
Phân định phần tài sản cho từng người thừa kế
-
…
Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc (thừa kế bắt buộc):
Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản:
– Con chưa thành niên (chưa đủ 18 tuổi), cha, mẹ, vợ, chồng
– Con đã thành niên mà không có khả năng lao động
Các điều kiện của di chúc
-
Người lập di chúc có năng lực hành vi
-
Người lập di chúc tự nguyện, minh mẫn
-
Nội dung của di chúc không trái với pháp luật và đạo đức xã hội
-
Hình thức của di chúc hợp pháp: Di chúc miệng và Di chúc bằng văn bản.
b. Chia thừa kế theo pháp luật

Là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định.
Những trường hợp chia thừa kế theo pháp luật;
-
Không có di chúc hoặc di chúc không hợp pháp;
-
Người thừa kế theo di chúc đều chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng di chúc không còn vào thời điểm mở thừa kế;
-
Phần di sản của những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản;
-
Phần di sản của những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà họ từ chối nhận di sản;
-
Phần tài sản không được định đoạt trong di chúc;
-
Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật.
Người thừa kế theo pháp luật, được quy định theo thứ tự sau đây
-
Hàng thừa kế thứ nhất: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết.
-
Hàng thừa kế thứ hai: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại.
-
Hàng thừa kế thứ ba: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cô ruột, cậu ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cô ruột, cậu ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
Lưu ý:
-
Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
-
Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.
Thừa kế thế vị: Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.
Một số trường hợp thừa kế khác:
-
Con riêng và bố dượng, mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định trên
-
Trường hợp vợ, chồng đã chia tài sản chung khi hôn nhân còn tồn tại mà sau đó một người chết thì người còn sống vẫn được thừa kế di sản.
-
Trường hợp vợ, chồng xin ly hôn mà chưa được hoặc đã được Tòa án cho ly hôn bằng bản án hoặc quyết định chưa có hiệu lực pháp luật, nếu một người chết thì người còn sống vẫn được thừa kế di sản.
-
Người đang là vợ hoặc chồng của một người tại thời điểm người đó chết thì dù sau đó đã kết hôn với người khác vẫn được thừa kế di sản.
